Don Bosco với Chúa – Chân dung một vị thánh

Don-Bosco-6-509x480

Don Bosco với Chúa – Chân dung một vị thánh

Gioan Bosco (1815-1888), hay Don Bosco (theo tiếng Ý truyền thống thì chữ “Don” là một từ xưng hô tôn kính) hoặc Giovanni Bosco, là một vị thánh của Giáo hội Công giáo Rôma. Nổi tiếng là một nhà hùng biện ở Torino, tuy nhiên, ông được biết nhiều nhất với tư cách là người sáng lập ra tu hội Salesian vào năm 1852.

Kết hiệp với Thiên Chúa

“Don Bosco có thể thực sự là một nhà huyền bí – nếu chỉ vì ta không chút nghi ngờ về hiệu năng kỳ diệu của ngài trong tác vụ linh mục, nhưng kỳ thực, tính huyền bí này xuất phát từ một đời sống kết hiệp thiết thực với Chúa Giêsu Kitô, từ đó ngài đã muốn là và đã là thừa tác viên trung thành trong mọi thời. Đã có người bị ấn tượng thật mạnh về công việc lớn lao mà Don Bosco đã liên tục làm và họ đã hỏi ngài trước mặt Đức Pio XI- khi nào ngài đã có thể hồi tâm với Chúa trong kinh nguyện? và Đức thánh Cha, người biết rõ về Don Bosco- đã trả lời cách dí dỏm: đừng lo nghiên cứu khi nào ngài cầu nguyện, nhưng hãy lo tìm hiểu khi nào ngài đã không cầu nguyện”.

Bí quyết thâm sâu hơn cả của Don Bosco hệ tại ở tinh thần cầu nguyện không biết mỏi mệt của ngài. Có thể nói rằng nguyên lý vĩ đại của Đấng thánh không nằm trong những phẩm chất- cho dù là cao siêu, nhưng chính xác nó nằm trong khả năng ngoại trừ là sống kết hợp với Thiên Chúa như con dấu riêng của ngài.

Có thể dùng những lời biểu tượng của Đức Pio XI để định nghĩa về Don Bosco: “Cần phải hỏi rằng đâu là bí quyết của tất cả công việc kỳ diệu này. Chính Vị thánh đã giải thích cho chúng ta, chìa khóa đích thực của mầu nhiệm kỳ diệu này: là sự linh hứng bền tâm của ngài, còn hơn nữa- sự liên tục cầu nguyện cùng Thiên Chúa của ngài; bởi cuộc đối thoại không ngừng với Thiên Chúa và rất họa hiếm mới chứng thực phương châm qui laborat, orat, bởi ngài đã đồng nhất công việc với kinh nguyện”. Kỳ thực, don Ceria đã xác định: “Tâm hồn Don Bosco đã không ngừng kết hiệp với Thiên Chúa; dường như hồng ân của ngài là không bao giờ bị ra khỏi tư tưởng yêu mến Chúa, cho dù những bận tâm và công việc có chất chồng tới đâu đi nữa”.

Sự xuyên suốt của nội tâm tính

Điều gì đảm bảo rằng sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa nơi Don Bosco lại thâm sâu đến thế?

Nhìn lá và quả thì biết cây. Những sự kiện đã trở thành hồ sơ – nó đi từ sự ghi chép phong thái ngài là tới những ngôn từ và phản ứng trong các khó khăn.

Trước hết- đã có sự tỏa chiếu về tinh thần qua gương mặt, qua phong cách và ngôn từ. Quả thực, don Ceria ghi nhận: “trong những năm chất chồng sinh hoạt thì người ta đã chỉ nhìn thấy Don Bosco như con người của kinh nguyện” (trg. 63), những quan sát viên gần nhất của ngài cũng đã có kinh nghiệm tương tự về ngài. Họ nói: “một linh mục đáng kính mà ta thấy được và qua diện mạo của ngài phản chiếu sự minh nhiên luôn tư tưởng và sống sự hiện diện của Thiên Chúa, đến độ chắc hẳn trong trí của ngài đã luôn vang vọng lời của vị tông đồ: quê hương của chúng ta ở trên trời (Pl 3,20)”. Don Rua chứng thực: “Điều mà tôi đã có thể luôn thấy được- đó là sự kết hiệp liên tục của ngài với Thiên Chúa. Và những tình cảm yêu mến Chúa này đã được biểu tỏ cách rất tự nhiên, như được bộc phát bởi một khối óc và một cõi lòng luôn nhận chìm trong chiêm ngưỡng”. Các SDB vào thời của ngài chứng thực rằng “tưởng như đời sống của Don Bosco luôn ở trong sự kết hiệp với Thiên Chúa, đến độ trong bất cứ giây phút nào ngài được hỏi, cho dù giữa công việc tẻ nhạt và làm rối trí, ngài đã trả lời như một người đã bị cuốn hút vào trong chiêm niệm; như đức mến Chúa giãi chiếu trong sự hiệp kết của ngài với Thiên Chúa; như ngài đã luôn sống sự hiện diện của Thiên Chúa và những tư tưởng của ngài đã luôn hướng về Chúa; ngài đã có con tim chan hòa tình yêu đối với Thiên Chúa, khiến cho tư tưởng và lời nói của ngài đã luôn hướng về Thiên Chúa” (trg. 332). Đức Hồng Y Cagliero nói thêm: “Tình yêu thần linh đã xuyên suốt từ gương mặt, từ trọn vẹn nhân vị và ngôn từ; và nó đã được bộc diễn từ con tim khi ngài nói về Thiên Chúa trên tòa giảng, trong tòa cáo giải, qua những bài diễn văn công – riêng và trong chính những cuộc đối thoại thân tình. Ngài đã nghe thấy lặp lại cả hàng ngàn lần: tất cả vì Chúa và vì vinh danh Ngài! Ngài đã luôn trong kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, khi ban huấn từ, khi ngồi bàn giấy, khi hết mình với công việc, khi cùng chúng tôi giải trí, khi cầu nguyện với lòng sốt sắng như thiên thần trước Chúa Giêsu Thánh thể hoặc khi thấy ngài ở trên bàn thờ”.

Don Ceria đã quan sát một cách tinh vi: “một bằng chứng tuyệt vời của sự kết hiệp thường tình với Thiên Chúa”, “chính là sự dễ dàng thân thưa với Ngài bằng tình cảm chân thật, một sự dễ dàng mà các con cái của ngài đã quá rõ” (trg.111), và thường bất cứ ai tiếp cận với Don Bosco, đều phải đánh giá rằng “không bao giờ vị linh mục trao đổi với một người nào mà không để lại cho họ một tư tưởng tốt lành” (trg.112). “Bằng chứng sáng lạn hơn của sự kết hiệp thường tình với Thiên Chúa là sự dễ dàng phát ngôn với chất dầu thơm của thiên đàng”. Hồng Y Cagliero khẳng định: Don Bosco đã nói về thiên đàng với tính linh hoạt, khả năng thưởng thức và sức lan tỏa, khiến cho bất cứ ai nghe cũng phải say mê. Ngài đã lý luận như một người con nói về nhà của thân phụ mình; ước muốn sở hữu Thiên Chúa còn đốt cháy hơn là ơn mà Ngài hứa ban. Khi nghe thấy các hội viên của mình phàn nàn vì những cơ cực, mệt mỏi, bận rộn, ngài đã khích lệ: con hãy nhớ rằng con chịu khổ và con làm việc cho một ông chủ tốt lành, đó là Thiên Chúa. Con hãy làm việc và chịu khổ vì lòng mến Chúa Giêsu Kitô. Đấng đã chịu khổ cực quá nhiều cho con. Một mảnh thiên đàng sẽ giải quyết tất cả con ạ” .

Do đó- “bất cứ điều gì Don Bosco làm đều đã là kinh nguyện”.

Sự vững mạnh của tâm hồn

Một biểu hiện khác về tinh thần cầu nguyện của vị thánh đã là sức mạnh được biểu tỏ trong những cực khổ của cuộc sống.

“Bằng chứng cao đẹp hơn cả mà một người liên tục hướng lòng về Chúa và có Chúa trong lòng, tức là trong mutare fortitudinem, trong cái khả năng luôn chộp bắt được những nghị lực mới- khác nào sự quyết tâm đoạt được: thế ổn định mà nó là sự thông phần mật thiết vào sự bất biến thần linh”. Cagliero đã tuyên bố: “Trong suốt 35 năm tôi không hề nhớ là đã trông thấy ngài chỉ một giây lát- bực bội, thất đảm và bất ổn để lo dưỡng-dục các thanh thiếu niên của ngài”. Ngài cũng đã không bao giờ chịu thua những gian nan thử thách, cho dù là vô số, thuộc bất cứ dạng nào, kể cả những đau buồn hơn cả.

Một trong các nét đặc thù đã gây ấn tượng mạnh cho Đức Pio XI trong những năm biết Don Bosco- đó là khả năng làm chủ thời giờ của mình cách bình tĩnh. Quả thực, don Ceria giải thích: “chính sự thanh thản và bình tâm mà cha thấy ngài đổi thay trước những nguy cơ, những cản trở, những hoạn nạn- cho dù là trầm trọng tới đâu đi nữa, cũng đã không làm ngài nao núng. Vẫn còn sống động giữa chúng ta hồi ức về một câu nói đã được lặp lại từ đấng kế vị thứ I của Don Bosco- nghĩa là khi người cha thân yêu xuất hiện vui vẻ và hài lòng hơn thường lệ, các cộng sự viên đã suy diễn từ kinh nghiệm- thì họ rầu rĩ xì xầm vào tai nhau: hôm nay Don Bosco của chúng ta đang phải đối diện với sự phiền toái nghiêm trọng gì đây, bởi ngài tỏ hiện hồ hởi hơn thường lệ. Trong những trường hợp này, don Rua biểu chứng trong dự án phong thánh- sức mạnh của ngài chính là kinh nguyện” (109-110). Đúng vậy, như ngài đã giải thích “một người bị đụng độ- hơn thế nữa- bị thương tích bằng một loạt những bất mãn sâu sắc, khiến cho con tim bị rướm máu, chính lúc đó họ lại tỏ ra hân hoan hơn thường lệ sao? Có nghĩa là những sầu buồn đem lại niềm vui sướng sao?. Sự thật đó là- “trong tâm hồn những người hướng về chiêm niệm thì nỗi khổ đau được biến đổi cách huyền nhiệm thành tình yêu và tình yêu là cái mà nó nới rộng tâm hồn”.

Chính diễn ý kết thúc này được ứng dụng cho rất nhiều trường hợp của“những cuộc gặp gỡ hết sức chán nản, trong đó nổi bật sự từ bỏ chính mình cách triệt để, mà nó là thành quả của sự tiếp xúc liên tục với Thiên Chúa, sự an bình siêu việt chủ trì những tư tưởng và tình cảm nhân loại” (163). Không quên rằng, Don Bosco “tự bản chất là con người nóng nẩy và ương ngạnh, đồng thời không thể khựng lại được” (165). Thế mà kinh nguyện đã biến ngài thành “con người dung hoà và an bình hơn cả của thế gian này” .

Thấm sâu trong con người

Tinh thần cầu nguyện của Don Bosco là “khả thế thường tình của tâm hồn, hiện thực nó cách dễ dàng, bền tâm và dấu yêu khả giác” (106), nó đã lan truyền sang cả các cộng sự viên tiên khởi của ngài.

Don Ceria đã hồ hởi viết: “Chúng tôi đã biết những con người đó, với những bộ óc ắp đầy kiến thức và văn hóa, khác biệt trong những tập tục, thế mà nơi mọi người lại nổi bật cái gì đó là đặc điểm chung vốn nó tạo nên như những đường nét nguyên thủy. Sự bình tâm hồn nhiên trong nói năng và trong hành động, tình phụ tử tốt lành trong phong cách và nét diễn tả; nhưng nhất là một lòng đạo- khiến cho thấy rõ được rằng trong quan niệm của họ là l’ubi consistam, điểm tựa của đời sống salêdiêng. Họ đã cầu nguyện rất nhiều, cầu nguyện rất sốt sắng; khiến cho chúng tôi hiểu được rằng không chỉ cầu nguyện nhưng là cầu nguyện tốt, cầu nguyện tử tế; tưởng như họ không biết nói đôi điều trước công chúng hay nơi riêng tư nếu trước và bằng cách nào đó họ đã chưa đưa kinh nguyện vào. Còn nữa, cũng chẳng trừ don Michele Rua, một diện mạo khổ hạnh và có những lúc dường như ngây ngất, ngài đã gợi lại sự chú ý kính phục của những người liên hệ, những người vốn không tỏ ra sở đắc được các ơn phi thường của cầu nguyện; quả thực, chúng tôi đã nhìn thấy họ chu tất những việc đạo đức do luật chỉ định hay truyền thống mời gọi cách đơn thành. Quả rất là cần mẫn trong cung cách tiếp xúc với Thiên Chúa! Và với một sự thanh thản hồn nhiên, họ chêm những tư tưởng đức tin vào các câu chuyện giải trí! Họ là những người đã sống lâu năm với Don Bosco; đời sống chung ấy đã để lại trong cuộc sống của họ những dấu vết không thể xóa nổi được. Rất hữu ích nếu ta liên tưởng tới những gì vị tông đồ đã viết cho các tín hữu thành Corinto (2 Cr 3,2-3): ai muốn biết đâu là tinh thần cầu nguyện nơi Don Bosco, thì đây- đã có các môn đệ của ngài- gần như là bức thư chính thực của ngài- trong đó chính ngài đã nói”.

Cơ bản của giáo dục

Đời sống của Don Bosco đã là một với sứ mệnh của ngài- như một nhà giáo dục khôn sánh của giới trẻ: những bản lề của cái này (đời sống) nó tương ứng với những mệnh lệnh của cái khác (sứ mệnh giáo dục). Không một ai ngỡ ngàng rằng Don Bosco đã không quan niệm “việc giáo dục một người trẻ đã rửa tội không buộc qui mọi sinh hoạt sư phạm vào sự phát triển đời sống siêu nhiên”.

“Ngài muốn các nhà giáo hãy coi nhà trường như một phương tiện để làm sự thiện”. Ngài đã nói với họ: “Ai hổ ngươi khi nhắc nhở thực hành việc đạo đức thì không xứng đáng là một người thầy; những người trẻ khinh khi họ và họ sẽ không làm được gì khác ngoài việc làm hư hỏng những con tim mà Chúa Quan phòng đã trao phó cho họ”. Theo ngài, “không có yếu tố tôn giáo, công cuộc giáo dục không chỉ không hiệu năng nhưng còn vô nghĩa”.

“Niềm xác tín này đã đồng hành suốt cuộc đời của ngài”. Năm 1978, một chức quyền nhà nước đã cương quyết tuyên bố: người ta nói rằng Don Bosco muốn quá nhiều việc thực hành tôn giáo. Và quả thực, tôi cho rằng không có tôn giáo thì không thể nào giúp người trẻ trở nên tốt được. Năm 1885, với một cảm thức nản chí, ngài đã thốt lên lời than này: – tôi già và kiệt sức rồi, tôi ra đi với nỗi đau xót là đã không hiểu đủ”.

Phần còn lại là làm sáng tỏ những ý tưởng, don Ceria nhận xét cách khôn ngoan: chỉ danh xưng mà Don Bosco đã chọn cho trung tâm động cơ công cuộc của ngài: nguyện xá cũng đủ để ta hiểu được sức đẩy giáo dục của ngài kín múc và xuất phát từ đâu. “Một địa điểm được mệnh danh là thế thì nơi đó chính yếu cũng sống như thế; vậy nếu một nơi nhiều hành động mà được gọi là nơi của cầu nguyện thì đây phải nói là trong các công cuộc của Don Bosco- trước hết phải là cầu nguyện rồi mới tới hành động. Chính những lời lẽ của Don Bosco đã hiên ngang xác quyết thế. Không thiếu những người đã đề nghị đặt các tên với những nghi thức thánh thiện và nhiều việc thực hành đạo đức khác; nhưng Don Bosco cứ nín thinh hoặc chỉ trả lời duy một cách: -tôi đặt tên cho nhà này là Nguyện xá để nêu rõ là chỉkinh nguyện mới là sức mạnh mà trên đó ta phải thiết định”.

“Trong Nguyện xá, lòng đạo như không khí của hơi thở; đọc thấy lòng đạo trên khuôn mặt của những người trẻ; lòng đạo nẩy bật trong mọi sự và mọi người”. “Mỗi bề trên, mỗi nhà giáo phải chạy đến gần Chúa để xin ơn trợ giúp và mọi điều thiện hảo đều qui về Ngài. Khi có ai đó phàn nàn về vấn đề học tập, thông thường ngài bắt đầu hỏi họ: – con có cầu nguyện cho các học trò của con không?”

Rõ là “bí quyết của Don Bosco trong công cuộc giáo dục đã là: cho những người trẻ của ngài uống bằng những việc thực hành đạo đức”.

Những liều lĩnh của hoạt động và việc học hành

Bởi được năng động bằng một sự ngờ vực nên ngày nay – còn có thể được khơi lên một câu hỏi về chiều sâu sự kết hiệp của Don Bosco với Thiên Chúa : “nhưng cả Don Bosco cũng là một nhà huyền bí sao?”. Hai giả tưởng, mà kỳ thực nó đã tiếp tục làm chao đảo các “trí óc của người phàm. Họ tin rằng nhà huyền bí thì đối nghịch với thực tiễn, trong khi đó- nó đối nghịch với vật lý hay tự nhiên. Nói là huyền nhiệm cái mà tạo thành một thực tại siêu nhiên. Rồi tưởng tượng rằng con người được gọi là huyền nhiệm họ sống như được cuốn hút trong chiêm ngưỡng của họ và không thấy gì cũng như không còn hiểu gì về những sự vật của thế gian này nữa”, trong khi đó- “những nhà huyền bí đích thực  những con người của thực tiễn và của hành động, chứ không phải con người của lý luận và lý thuyết” và “dường như cảm thức tốt lành là phẩm chất ưu thế của họ” .

Như nhà huyền bí đích thực, Don Bosco đã cống hiến bằng chứng về cảm thức tốt và thực tiễn cả trong tương quan kinh nguyện và hành động.

Tiên vàn, ngài đã không bao giờ tách khỏi nó. “Không bao giờ có Marta mà không có Maria trong đời sống linh mục của ngài. Sẽ là giờ Marta cầu nguyện, giờ Maria hoạt động: Marta trong cầu nguyện để thời kỳ sinh hoạt được cường độ và lâu bền hơn trong Ngài và Maria trong hoạt động hướng tới hoàng hôn những ngày của Ngài, khi sinh hoạt sẽ giảm thiểu thành những hạn từ nhỏ mọn; nhưng trong cả hai đã không bao giờ bị Ngài quên lãng il sine intermissione orate”.

Và cũng không bao giờ ngài bị lầm lẫn. “Ngài luôn trong thế động để làm tốt bao có thể, trong nói năng, khổ nỗi sự lừa gạt đã để cho giả định rằng việc hoang phí vì lợi ích tha nhân buộc ngài phải sao nhãng việc tiếp xúc và sống nội tâm với Thiên Chúa”. Nhưng “làm việc nhiều thì khác với làm việc tử tế. Ai không biết rằng người tông đồ, trong khi công việc có thể và phải là phương tiện thánh hóa thì nó lại trở nên cho người bôn ba với những sinh hoạt bên ngoài, một nguyên nhân của sự nóng nẩy, bực bội thiêng liêng?” (267). Trong một quyết tâm năm 1845, vị thánh đã ghi chú: “Bởi trước khi bước vào phòng thánh, thường họ hay gặp để xin tôi lời khuyên hay xin giải tội, nên trước khi ra khỏi phòng tôi đã phải lo thực hiện một chuẩn bị ngắn để cử hành thánh lễ” (80). “Tin tức chính xác và ý nghĩa”, don Ceria bình luận. “Trong khi với cái “ngắn” đó loại trừ bất cứ sự áy náy lương tâm, còn lại- như Don Bosco, ngài biểu lộ cho ta- trước hết là nấp sau cánh gà để gặp gỡ Chúa và vì Chúa, ngài thích thực hiện việc chuẩn bị nhất thiết này trước- cách lành thánh như thế”.

Cũng một tính cách cụ thể đó, ngài đã điều hành nỗ lực của mình trong học tập, ngay từ những năm sống trong Chủng Viện ở Chieri. Thấy rằng ngài đã rất cần mẫn. Don Ceria đã nhận xét cách tinh tế: “Nơi những người trẻ thông thái” và cứ thực mà nói thì chúng còn có một nền văn hóa lành mạnh hơn cả những người lớn, “sự ham chuộng học tập đe dọa ba khía cạnh của lòng đạo.

Trước hết- sinh hoạt trí óc làm chủ tinh thần, nó đong đầy những ý tưởng khiến cho người học trò cũng phải chút ít lo ra trong những thực hành đạo đức. Rồi, những thành quả tốt thôi thúc sự huênh hoang trẻ trung- và từ từ ai nhượng bộ nó, nó làm phai lạt dần sự dịu dàng của ân sủng. Sau cùng, các sinh viên chăm chỉ dễ rơi vào trong nguy cơ là rút ngắn sự kéo dài thời giờ cầu nguyện hoặc ăn mày những tự phụ để miễn chước cho khả thế, nghiêng về quan niệm cho đó là mất thì giờ nếu không được dùng cho bút nghiên”.

Hệ quả là “dường như họ không có trí để cho nhà thờ và việc thực hành đạo đức hay ít nhất là khó lòng mà họ ham thích đến với Chúa” (53).

Thầy Don Bosco cùng với người bạn Comollo đã không hề để cho mối giây kiêu hãnh đó tròng cổ, ngài xác tín rằng “để trở thành cộng sự viên của Giáo hội, thì việc học tập là phương tiện chứ không phải là mục đích, và phương tiện thuộc loại II để mưu thiện ích cho các linh hồn, nhưng tiên vàn phải là sự thánh thiện trong đời sống”. Và ngài đã “đẩy xa cả ngàn dặm việc học tập để học biết nhiều nhiều và trước hết về tinh thần cầu nguyện”.

Giá trị của những thực hành đạo đức

Ai nhìn Don Bosco thì sẽ thấy được “điều mà thánh Bernado đã nói- ngài luôn bận bịu trong nhiều công việc: vùng ngoại ô, trong đời sống của ngài đã không làm phiền toái trung tâm và trung tâm đã không làm phiền vùng ngoại ô. Vùng ngoại ô đã là sinh hoạt bên ngoài, trung tâm là sự hồi tâm huyền nhiệm nội tại” (349).

Sự kết hiệp không biết mỏi mệt với Thiên Chúa, cầu nguyện liên tục hay lan tỏa, chính là của sự hồi tâm với Chúa, lương thực cơ bản của mọi hình thái cầu nguyện và sự thể hiện thực tiễn duy nhất của mệnh lệnh tin mừng về cầu nguyện không ngừng- đôi lần nó đã cần đến sức khỏe tốt của việc thực hành đạo đức trong biệt nghĩa của nó: cử hành thánh thể, nguyện ngắm, sách thiêng, lần chuỗi, v.v… Don Bosco rất nhất trí về những điểm này.

Mới 11 tuổi, ngài “đã hiểu được rằng mỗi ngày hãy dành một ít giờ để suy niệm là một điều tốt cho linh hồn”, và ngài đã rút tỉa được hai hoa trái ở nhận thức này: “thưởng thức được đời sống tâm linh là thế nào và không còn hành động như trước nữa, nghĩa là thà làm cách vật chất còn hơn là làm như cái máy, làm một việc mà không biết lý do làm việc ấy” (18). Khi gặp người bạn Comollo ngài đã cùng đi xưng tội, hiệp lễ, “nguyện gẫm, đọc sách thiêng, viếng Chúa G.Thánh thể, giúp lễ” (36). Khi đã lãnh áo tư giáo, ngài đã viết một qui luật sống đời tư giáo trong 7 khoản; khoản thứ VI đã là: ngoài những việc thực hành đạo đức bình thường, tôi sẽ không bao giờ bỏ qua một ít giờ nguyện gẫm và đọc sách thiêng mỗi ngày”.

Tại Chủng viện, trong các thực hành lòng sùng kính, ngài đã không chu toàn “điều gì khác lạ thường theo tập tục của ngài”, nhưng ngài đã hiện thực việc “tuân giữ cách trung thành với tất cả những gì mà đời sống tư giáo đòi hỏi: nguyện gẫm, sách thiêng, lần chuỗi, viếng Chúa Giêsu Thể, thánh lễ mỗi ngày, năng xưng tội, rất năng Hiệp lễ”. Trong chương trình sống mà ngài đã nghiên cứu trong kỳ tĩnh tâm để chuẩn bị thụ phong linh mục, ngài đã tái nhấn mạnh những nguyên tắc cũ: “Không bao giờ hành động mà không có sự đồng hành của kinh nguyện; như trong quá khứ- trong sinh hoạt hàng ngày sẽ luôn có chỗ cho nguyện gẫm”.

Ngài đã luôn trung thành thực hiện những quyết tâm này. Năm 1852, khi được phép giữ Chúa Giêsu Thánh Thể tại nhà nguyện Thnh Phanxicô di Sales “dinh thự thánh đã trở thành trung tâm của tình cảm ngài. Không thể nào diễn tả nổi được niềm vui này khi ngài đưa tin này cho các học sinh của mình. Sau đó, mỗi lần ngài thư thả một chút, ngài đã đi tới đó để thờ lạy Đấng Cứu thế thần linh”. Khi cử hành, ngài “đã nghiêm trang, chú tâm, sốt sắng, chính xác; ngài đã phát ngôn cách rõ ràng và thật hương vị”. “Không có gì là hấp tấp hay liến thoắng: nhưng cũng không uể oải hay lừ đừ, ngài đã diễn tiến từ đầu tới cuối cách bình thản và tự nhiên trong mọi phong thái”. Khi ngài phải hành trình, “dứt khoát không bỏ cử hành thánh lễ, bởi vậy- một là dậy sớm, hai là đi ngủ trễ hơn. Các SDB tiên khởi đã thấy thế và bây giờ chúng tôi- các SDB cuối cùng cũng thấy ngài vẫn như vậy”.

Giorgio GOZZELINO, SDB

Sr. Caty, FMA chuyển ngữ

Bạn có suy nghĩ gì về bài viết trên?

Chương trình Chầu Thánh Thể đặc biệt của MVGT VN trong mùa Covid