Lịch Sử Giáo Hội

Cuộc bách hại các Kitô hữu của Đế quốc Rôma (64-133)

Quốc Anh

Nhờ nỗ lực truyền giáo của các Tông đồ và của các tín hữu tiên khởi, chỉ sau một thời gian ngắn Tin Mừng đã được rao giảng khắp đế quốc Rôma. Số Kitô hữu ngày càng gia tăng. Lúc đầu nhà cầm quyền Rôma không quan tâm lắm, coi đây chỉ là một nhánh của Do Thái giáo (x. Cv 18,12-17), nhưng chỉ ít năm sau, nhà cầm quyền bắt đầu ra tay bách hại các Kitô hữu.

Nguyên nhân

1. Đối với quần chúng bình dân

Vì các Kitô hữu không tham dự các cuộc thờ cúng thần linh, cũng không tham dự việc thờ Hoàng đế, nên dân chúng coi các Kitô hữu là những người vô thần, khiến các thần nổi giận, giáng hoạ xuống trên đất nước. Mỗi khi có thiên tai hoặc một tai hoạ xảy ra, dân chúng lại đổ tội cho người Kitô hữu và đòi phải trừng trị họ.

Vì bị cấm cách, các Kitô hữu tụ họp với nhau để cử hành phụng vụ cách kín đáo nên nhiều người cho rằng các Kitô hữu là những người vô luân, tụ họp với nhau để làm những trò dâm dục xấu xa, ăn thịt uống máu đứa trẻ bị giết để tế lễ.

2. Đối với giới trí thức

Giới trí thức thì cho rằng Kitô hữu là những kẻ dốt nát nhưng lại kiêu căng tự phụ. Những người theo Kitô giáo chủ yếu là từ các giai cấp thấp trong xã hội, chẳng hạn như phụ nữ, trẻ em, giới lao động hoặc nô lệ. Kitô giáo lợi dụng tính dễ tin của những người này.

Triết gia Celsus (tk. II) và Porphyre (+305) cho rằng giáo thuyết Kitô giáo đối nghịch với lý trí. Nhập thể là phi lý. Giêsu chỉ là một người cùng khốn, không thể có cái chết của một hiền nhân như thế. Giáo thuyết của Giêsu chỉ là bản sao chép tồi các giáo thuyết của Ai Cập và Hy Lạp cổ điển. Sự phục sinh thân xác chỉ là trò dối trá. Các nghi lễ Kitô giáo thì vô luân.

3. Đối với nhà cầm quyền

Chính quyền Rôma coi Kitô hữu là công dân xấu vì họ không tham gia các sinh hoạt công cộng mà Nhà Nước đề ra, chẳng hạn không tham dự các cuộc tế tự của thành phố, không thờ Hoàng đế, không làm công chức, không tham gia quân đội, không tham dự các trò chơi ở hí trường.

4. Lời biện hộ của các nhà hộ giáo

Trước những lời đả kích trên, một số Kitô hữu, đặc biệt là thánh Justinô, Origiênê và Tertulianô, đã trình bày rõ ràng giáo thuyết và tập tục Kitô giáo để giải thích cho người ngoại hiểu, giúp đánh tan sự ngộ nhận. Những vị này được gọi là những nhà hộ giáo. Các ngài khẳng định rằng những lời tố cáo chống các Kitô hữu, các cuộc xét xử kết án thời bách hại đạo là bất công. Qua các tác phẩm hộ giáo của mình, các ngài trả lời cho từng lời tố cáo nói trên.

– Kitô hữu không phải là nhóm người chui rúc, hoạt động bí mật, họ tụ họp với nhau không phải để làm những chuyện vô luân. Để giải thích cho Hoàng đế Antoninus Pius (138-161) hiểu những gì các Kitô hữu đã làm khi họ tụ họp với nhau ngày Chúa nhật, khoảng năm 155 thánh Justinô đã viết tác phẩm Hộ giáo thứ nhất mô tả những nét chính của việc cử hành thánh lễ[1]. Tertulianô khẳng định: Người Kitô hữu không làm những việc đồi bại mà xã hội Rôma đang làm là giết trẻ em, phá thai, đề cao nhục dục, cho phép đổi vợ. “Kitô hữu không xa lánh cuộc đời, chúng tôi vẫn lui tới công trường, bể tắm, xưởng thợ, tiệm buôn, chợ búa. Chúng tôi là thủy thủ, quân nhân, nông dân hay thương gia”.

– Thánh Justinô nói: Giáo thuyết của Kitô giáo phù hợp với lý trí, và nếu xét từ nguồn gốc của nó là Cựu Ước, nó có trước triết học Hy Lạp.

– Kitô hữu là công dân tốt: Dù các Kitô hữu không coi Hoàng đế như thần linh nhưng họ vẫn tuân phục Hoàng đế và cầu nguyện cho Hoàng đế. Các Kitô hữu còn cầu nguyện cho các vị cầm quyền, cho quân đội, cho hòa bình thế giới. Các Kitô hữu cũng là những người nộp thuế đầu tiên. Kết thúc lá thư gửi cho giáo đoàn Côrintô năm 95, Đức Giáo hoàng Clêmentê đã viết một lời cầu nguyện cho chính quyền như sau: “Lạy Chúa … xin Ngài hãy làm cho chúng con biết phục tùng Danh toàn năng và chí thánh của Ngài, cũng như đối với các người đang lãnh đạo và hướng dẫn chúng con dưới thế này. Lạy Chúa, chính Ngài đã ban quyền cho họ do uy lực lớn lao và khôn tả của Ngài, để khi hiểu rằng chính từ Ngài họ nhận được vinh quang và vinh dự mà chúng con thấy nơi họ, chúng con sẽ tùng phục họ và không làm gì trái với ý Chúa. Xin Chúa ban cho họ sức khỏe, bình an, hòa thuận, ổn định để họ thực thi quyền hành Chúa đã ban cách tốt đẹp”.

Những cuộc bách hại

Đế quốc Rôma bách hại các Kitô hữu từ năm 64 đến năm 313, tức là khoảng 2 thế kỷ rưỡi. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, không phải lúc nào các Kitô hữu cũng bị bách hại. Trong số 53 Hoàng đế cai trị đế quốc Rôma trong thời gian này, chỉ có khoảng 10 Hoàng đế ra tay bách hại Kitô giáo. Thời gian đầu, việc bách hại chỉ diễn ra ở một số vùng, mãi đến thời Hoàng đế Decius (249-251), việc bách hại mới diễn ra trên toàn đế quốc. Sau đây là những cuộc bách hại chính:

1. Dưới triều Hoàng đế Nerô (54-68)

Nerô đàn hát trong lúc thành Rôma bị cháy

Đêm ngày 17 tháng 7 năm 64, một vụ hỏa hoạn xảy ra suốt 6 ngày liền thiêu hủy tất cả những khu phố cổ và đông dân nhất của Rôma. Trong khi lửa cháy bừng bừng, người ta thấy Nerô mặc áo kịch trường, cầm đàn hát bài anh hùng ca do ông soạn về cuộc hỏa hoạn thành Troas. Thế là có tiếng đồn Nerô thiêu hủy những khu bình dân để xây cất một đế đô mới, huy hoàng tráng lệ hơn.

Nerô lo sợ trước dư luận quần chúng, nhất là khi đó ông đã bị lên án về những vụ giết mẹ, giết vợ, giết đại thần… Nghe lời cố vấn Tigellinus, Nerô đã đổ tội cho người Kitô hữu. Thế là các Kitô hữu bị lùng bắt, hành hạ rồi đem giết dưới nhiều hình thức khác nhau như thiêu sống, chém đầu, đóng đinh, đấu gươm với nhau hay đấu với thú dữ cho đến chết. Có người bị bò rừng xé ra từng mảnh, hoặc ném cho hùm beo ăn thịt… Cuộc bách hại này giới hạn trong phạm vi thành Rôma.

Truyền thống coi hai thánh Phêrô và Phaolô là nạn nhân của Nerô. Phêrô tử đạo tại Rôma năm 64, còn thánh Phaolô tử đạo năm 67 cũng tại Rôma.

Cuộc bách hại của Nerô tạm ngưng vào năm 68 khi Nerô băng hà. Giáo Hội được bình an cho đến năm 81.

Các Kitô hữu cầu nguyện trước khi tử đạo. Tranh của Jean Léon Gérôme
Các Kitô hữu cầu nguyện trước khi tử đạo. Tranh của Jean Léon Gérôme

2. Dưới triều Hoàng đế Domitianus (81-96)

Domitianus là người đa nghi, chuyên chế và tàn nhẫn. Ông rất ác cảm với người Do Thái và với tất cả những ai sống theo lối Do Thái, nghĩa là thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Phe quý tộc và giới trí thức không phục ông. Năm 88, một cuộc cách mạng nhằm lật đổ ông bị dập tắt. Ông thanh lọc lại triều đình, giết hoặc lưu đày tất cả những ai dính líu vào cuộc chính biến. Chấp chánh quan Flavius Clemens bị tố cáo âm mưu chính trị, sống theo lối Do Thái và bất kính thần minh, nên bị trảm quyết. Nhiều người tên tuổi khác bị tử hình hoặc tịch biên tài sản và phát lưu. Cuộc bách hại lan sang tận Tiểu Á. Tại đây, thánh Gioan tông đồ bị bỏ vào vạc dầu sôi, nhưng không chết. Sau đó ngài bị đày ra đảo Patmô. Simeon, Giám mục Giêrusalem thì bị đóng đinh thập giá.

Năm 96, tức năm cuối cùng của đời ông, Domitianus hạ lệnh ngưng bách hại và cho những người đi đày được về. Nhờ vậy, thánh Gioan tông đồ được trở lại Êphêsô và qua đời ở đó năm 100. Domitianus bị đâm chết do âm mưu của Viện nguyên lão.

3. Dưới triều Hoàng đế Trajanus (98-117)

Plinus được cử làm đại sứ toàn quyền ở Bithyma, nơi Kitô giáo đang phát triển mạnh mẽ, khiến những người có nhiệm vụ bảo vệ quốc giáo đa thần lo ngại. Các Kitô hữu bị tố cáo với nhiều tội danh như không chịu thờ cúng thần linh, mê tín… Plinus viết thư thỉnh ý Hoàng đế Trajanus những thắc mắc của mình như: có phải nguyên việc mang tên Kitô hữu đã đủ để kết án? Những người chối đạo thì sao? Những đơn nặc danh tố cáo người Kitô hữu có giá trị gì không?

Năm 112, Hoàng đế Trajanus trả lời Plinius là đừng lùng bắt người Kitô hữu và chỉ phạt một khi họ bị tố cáo và mang ra trước công đường mà thôi. Khi họ chối đạo bằng lời nói và hành động, chẳng hạn như chịu thờ thần của chúng ta, thì tha cho họ, cho dù trước đó họ tỏ ra không mấy đáng tin. Trong đoạn viết thêm, ông còn nhắc không xét những đơn tố cáo nặc danh, vì đấy là những gương xấu không còn phù hợp với thời đại chúng ta nữa.

Trajanus trước khi chết đã đặt Hadrianus, con nuôi của ông, lên kế vị. Hadrianus là người có văn hóa cao, thích văn chương, nghệ thuật và rất sùng kính thần linh, ham biết những tôn giáo thần bí đông phương. Dù không ưa Kitô giáo, nhưng ông cũng không bách hại quá gắt gao, và lại còn ngăn những cuộc bắt bớ bất hợp pháp.

Chịu tử đạo thời Hoàng đế Trajanus có thánh Ignatiô thành Antiôkia vùng Syria. Ngài bị bắt, giải về Rôma và bị ném cho thú dữ ăn thịt năm 107.

Các phần trước:
Sơ lược xã hội đế quốc Rome, bối cảnh của Giáo hội sơ khai
Những nét chính về Giáo hội sơ khai thời các Tông đồ

4. Dưới triều Hoàng đế Antoninus Pius (138-161)

Thánh Polycarpô Giám mục Smyrna bị thiêu sống

Dưới triều Hoàng đế Antoninus Pius, chính sách cấm đạo vẫn được duy trì mặc dù không gắt gao cho lắm. Antoninus Pius rất bảo thủ, ông cho là bất kính thần linh và bất hiếu với tổ tiên nếu làm khác. Đây đó trong các tỉnh của đế quốc Rôma, vẫn xảy ra những cuộc bách hại người Kitô hữu do các quan chức địa phương. Năm 155 tại Smyrna, người ta bắt và thiêu sống thánh Polycarpô 86 tuổi, Giám mục thành Smyrna, mà không xét xử theo luật. Antoninus Pius phải can thiệp và trong thư gởi cho dân Hy Lạp, ông cấm không được gây ra những cuộc bách hại làm náo động quần chúng.

5. Dưới triều Hoàng đế Marcus Aurelius (162-180)

Số phận các Kitô hữu cũng không may mắn gì hơn dưới triều Hoàng đế Marcus Aurelius. Ông là một triết gia thuộc phái khắc kỷ. Ông khinh bỉ Kitô giáo, coi Kitô giáo là tôn giáo của lũ quê mùa dốt nát. Ông còn chịu ảnh hưởng của những nhà trí thức ghét đạo vây quanh như Celsus. Đàng khác, dưới thời của ông xảy ra nhiều tai ương: chiến tranh, đói kém, ôn dịch. Dân chúng mê tín đổ tội cho người Kitô hữu không chịu thờ cúng thần linh nên đất nước bị nhiều tai ương. Chính ông cũng mê tín, lại thêm nhu nhược, nên dân chúng tha hồ bắt bớ các Kitô hữu và hành hạ họ bằng đủ mọi loại cực hình: kềm nung đỏ, ghế lửa, đánh đập tàn nhẫn, đóng đinh, chém đầu, thiêu sinh, thú dữ cắn xé ăn thịt, xác phơi trên hí trường, hoặc bị đốt ra tro ném xuống sông, xuống biển.

Thánh Blandina tử đạo

Cuộc bách hại dưới thời Hoàng đế Marcus Aurelius lan rộng đến Gaul, Phi Châu, và Tiểu Á. Các vị tử đạo dưới thời ông thuộc mọi thành phần cũng như thuộc mọi lứa tuổi. Trong một lá thư gửi cho anh em Tiểu Á, các Kitô hữu thành Lyon đã tường thuật lại cuộc bắt giữ và hành quyết của khoảng 50 Kitô hữu Lyon (+177) trong đó có: Photin Giám mục thành Lyon 90 tuổi, Blandina một cô gái nô lệ và em của cô là Ponticô 15 tuổi. Ngoài ra ở Rôma có thánh Justinô nhà hộ giáo (+166), Cecilia (+179). Tại Carthagô có 12 vị tử đạo (+180) trong số đó có 5 phụ nữ.

6. Dưới triều Hoàng đế Septimius Severus (193-211)

Trong những năm đầu cầm quyền, Hoàng đế Septimius Severus tỏ ra khoan hồng với các Kitô hữu. Nhưng về sau ông thấy số Kitô hữu tăng rất nhanh khiến ông cảm thấy nền an ninh đế quốc và địa vị của ông bị đe doạ. Thêm vào đó là sự thù ghét Kitô giáo của nhóm cận thần. Bởi vậy, năm 201, ông ra chiếu chỉ cấm công dân Rôma trở thành Kitô hữu, tức là kết án những người học đạo và theo đạo, trừng phạt những người dạy đạo và rửa tội cho dự tòng.

Thánh Perpetua và Felicita 
tử đạo
Thánh Perpetua và Felicita
tử đạo

Thời kỳ này tại Rôma, các hoạt động của Giáo Hội phải rút xuống hang Toại đạo Callixtus. Người ta làm những đường hầm bí mật để các Kitô hữu có thể lên xuống dễ dàng mà không bị bắt.

Cuộc bách hại dưới thời Hoàng đế Septimius Severus lan rộng xuống Bắc Phi và Ai Cập. Ở Alexandria, học viện của Clêmentê và Origênê bị đóng cửa, nhiều dự tòng bị bắt giam và kết án, các nhân viên của học viện phải trốn đi nơi khác. Ở Phi Châu, cuộc bách hại thật dã man. Thánh Perpetua (+202) một phụ nữ quý tộc và Felicita (+203) một nữ nô lệ, đã tử đạo trong thời này. Ở Tiểu Á, viên toàn quyền triệt để thi hành lệnh bắt đạo. Trong xứ Gaul, cuộc bách hại cũng diễn ra ác liệt.

Septimus Severus mất năm 211, Giáo Hội được tương đối yên ổn cho đến thời Hoàng đế Maximinus Thrax.

7. Dưới triều Hoàng đế Maximinus Thrax (235-238)

Maximinus Thrax là một vị tướng người xứ Thracia, được quân đội tôn lên làm Hoàng đế sau khi họ nổi loạn giết Hoàng đế Severus Alexander (222-235). Maximinus Thrax là một người cộc cằn, ít học, nham hiểm. Đối với Kitô giáo, ông mở đầu một chính sách bách hại mới. Ông cấm đạo vì căm thù, muốn làm ngược lại với người tiền nhiệm mà ông căm ghét vốn tương đối khoan dung với Kitô hữu. Ông ra lệnh tầm nã hàng giáo sĩ.

Cuộc bách hại dưới thời Hoàng đế Maximinus Thrax lan rộng xuống Phi châu và sang Cappadocia (miền trung Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Thời này có Đức Giáo hoàng Pontianô (230-235) và Hippolytô, bị đày sang đảo Sardinia[2] và đã chết ở đây vì bị ngược đãi. Đức Giáo hoàng Antêrô lên kế vị Đức Pontianô cũng chết vì đạo vào năm sau (+236).

Đồng xu Denarius in hình Maximinus Thrax được đúc ở Rôma
từ tháng 2 đến tháng 12 năm 236.
Hình Hoàng đế Decius
trên đồng tiền bằng bạc
của Rôma

Sau Maximinus Thrax, Giáo Hội được yên ổn khoảng 11 năm.

8. Dưới triều Hoàng đế Decius (249-251)

Khi lên ngôi, Decius vẫn đi theo đường lối chính trị trước đây. Ông chỉnh đốn tình trạng đế quốc đang xuống dốc, và cho rằng việc củng cố đạo thờ các thần linh của Rôma và việc tôn sùng Hoàng đế là yếu tố cần thiết để thống nhất đế quốc, cải thiện xã hội. Đối với Decius, Kitô giáo cần bị cấm vì nó không chỉ là một thứ tôn giáo ngoại lai, mà nó còn cản trở cho việc thống nhất đế quốc.

Ông quyết đương đầu bằng một cuộc bách hại gắt gao hơn, nhằm đập tan một lực lượng tôn giáo mà từ xưa các Hoàng đế đã không làm nổi. Cuộc bách hại của Decius không như trước chỉ nhằm vào các kẻ bị tố cáo hoặc một thành phần nào trong Giáo Hội, nhưng là cuộc bách hại toàn diện. Năm 250, ông ra lệnh bắt mọi người dân Rôma phải cúng tế các thần của đế quốc hoặc thờ Hoàng đế. Những ai không vâng lệnh sẽ bị trừng phạt.

Giấy chứng nhận đã dâng hương tế thần, dưới thời Hoàng đế Decius
Giấy chứng nhận đã dâng hương tế thần, dưới thời Hoàng đế Decius

Các quan tòa được trao nhiệm vụ dụ dỗ giáo dân bỏ đạo, bằng đe dọa hình phạt hoặc hứa hẹn quyền chức giàu sang. Có thể dùng biện pháp kéo dài thời gian giam giữ hoặc dùng những cực hình dã man, làm cho họ khiếp sợ mà chối đạo.

Text Box: Giấy chứng nhận đã dâng hương tế thần, dưới thời Hoàng đế Decius Cuộc bách hại dưới thời Hoàng đế Decius xảy ra trong toàn đế quốc Rôma (gồm những nước chung quanh Địa Trung Hải ngày nay). Bên cạnh nhiều người yếu lòng tin, chối đạo, có rất nhiều anh hùng hiên ngang tuyên xưng đức tin. Ở Rôma, Đức Giáo hoàng Fabianô (236-250) là nạn nhân đầu tiên.

Ở Sicilia có trinh nữ Agata phải chịu những cực hình rất dã man ghê sợ trước khi bị trảm quyết (+251). Trong xứ Gaul có Đionisiô là Giám mục tiên khởi thành Lutecia (Paris ngày nay), bị giết cùng với Rusticô và Eleuther. Ở Toulouse, Saturnô bị bò rừng húc chết. Ở Tây Ban Nha có nhiều Giám mục, linh mục, cũng như rất nhiều giáo dân can đảm tuyên xưng đức tin. Ở Ai Cập, cuộc bách hại ác liệt không kém thời Nerô; nhiều người trốn vào sa mạc, như Phaolô ẩn tu. Ở Palestine, Origênê bị bắt giam và chịu nhiều cực hình, nhưng rồi được tha. Ở Armênia có anh Polyeucte, người đã công khai xé yết thị của Hoàng đế ngay giữa công trường Melitana, và bị án trảm quyết (+250).

Thánh Agata tử đạo. Tranh của Giovanni Battista Tiepolo,1750
Thánh Agata tử đạo. Tranh của Giovanni Battista Tiepolo,1750

9. Dưới triều Hoàng đế Valerianus (253-260)

Lúc mới lên ngôi, Valerianus có cảm tình với Kitô giáo, nhưng đến năm 257 ông ra chiếu chỉ bắt đạo. Ông lên án Giáo Hội là một đoàn thể bất hợp pháp, phải giải tán, các cuộc tụ họp của các tín hữu bị nghiêm cấm, còn tài sản của Giáo Hội bị nhà nước tịch thu. Ông cũng ra lệnh bắt các Giám mục và linh mục phải tế thần, ai không tế thần sẽ bị kết án tử hình. Hàng quý tộc, các nghị sĩ và tất cả những ai có địa vị trong triều đình theo Kitô giáo đều bị lên án tử hình và bị tịch thu tài sản. Các nhân viên cấp dưới không bỏ đạo cũng bị tịch thu tài sản và truất xuống làm nô lệ khổ sai. Ông cấm việc thờ tự, cấm viếng các nghĩa trang Kitô giáo, nơi giáo dân thường lén lút đến hội họp.

Với chiếu chỉ này, Valerianus muốn tiêu diệt Kitô giáo về cả ba phương diện: tổ chức hành chánh, tổ chức bác ái xã hội và tổ chức kinh tế. Cũng vì lệnh tịch thu tài sản đó, mà các quan địa phương rất hăng say thi hành, nhiều người còn lợi dụng chiếu chỉ để tố cáo và lật đổ người Kitô hữu có địa vị. Cuộc bách hại ác liệt không kém thời Decius.

Cuộc bách hại dưới thời Hoàng đế Valerianus xảy ra trên toàn đế quốc Rôma. Hầu hết các Kitô hữu đã can đảm tuyên xưng đức tin và nêu gương anh dũng.

ĐGH Sixtô II bị giết cùng với 6 phó tế

Ở Rôma, Đức Thánh Cha Sixtô II (257-258) bị giết cùng với 6 phó tế ngay tại giảng đài, trong hang toại đạo Pretextat. Phó tế Laurensô bị giữ lại để tra khảo tài sản của giáo đoàn. Laurensô xin khất ít ngày để về thu xếp đem nộp sau. Sau đó Laurensô đã phân phát hết cho dân nghèo, rồi dẫn họ đến quan tổng trấn và thưa: “Thưa đây là tất cả tài sản của Giáo Hội”. Nổi giận, quan ra lệnh đánh đập dã man, và nướng Laurensô trên giường sắt nung đỏ (+258).

Ở Gaul có nhiều anh hùng tử đạo. Đặc biệt tại Tây Ban Nha có Fructuosô, Giám mục thành Tarragona, bị thiêu sống với hai phó tế Eulogiô và Aguriô. Tại Utica gần Carthagô, Bắc Phi, có khoảng 300 giáo dân cùng Giám mục Quadratô bị ném vào thùng vôi đang sôi nên người ta gọi các ngài là đoàn Tử đạo trắng (Massa candida). Nhưng nổi tiếng hơn cả là thánh Cyprianô, Giám mục thành Carthagô, chịu trảm quyết một cách anh dũng phi thường (+258).

Phó tế Laurensô trên giường sắt nung đỏ. Tranh của hoạ sĩ Palma Giovane

10. Dưới triều Hoàng đế Diocletianus (284-305) và Maximianus (286-305)

Tứ đầu chế

Khi lên nắm quyền, Diocletianus thiết lập thể chế Tứ đầu chế. Ông bổ nhiệm bạn ông là Maximianus làm Hoàng đế (Augustus) của đế quốc Rôma phía Tây và chọn Constantius I Chlorus làm vua phụ tá (Caesar). Còn Diocletianus thì làm Hoàng đế (Augustus) đế quốc Rôma phía Đông và phong Galerius làm vua phụ tá (Caesar).

Năm 298, Galerius buộc tất cả lính tráng phải thực hành các nghi lễ thờ Hoàng đế. Năm 303 ông làm áp lực để Diocletianus ban hành các sắc lệnh cấm đạo: phá hủy nhà thờ, tịch thu sách Kinh Thánh, đồ đạo; bắt tất cả hàng giáo sĩ; cách chức và bãi nhiệm các viên chức là Kitô hữu; toàn dân phải thờ cúng các thần Rôma, ai không tuân lệnh sẽ bị tử hình, khổ sai, hoặc bắt đi lao động khai thác các mỏ.

Đế quốc Tây và Đông Rôma dưới thời Hoàng đế Diocletianus và Maximianus

Bên phía Tây đế quốc Rôma, Hoàng đế Maximianus bách hại dữ tợn hơn tại Italia và Phi Châu. John Farrow viết: Bầu trời vùng ông cai trị mịt mù khói nhà thờ bị đốt, đường phố các thị trấn nhuốm máu những chứng nhân mới bị giết, lương tâm các quan chức nặng trĩu những bản án bất công …

Thánh Sebastianô tử đạo.
Tranh của hoạ sĩ Giovanni Antonio Bazzi, 1525

Cuộc bách hại thời Diocletianus và Maximianus là cuộc bách hại đẫm máu nhất từ trước tới nay. Toàn đế quốc có hàng ngàn người tử đạo. Tại Rôma, Đức Giáo hoàng Marcellinô tử đạo ngày 25.10.304, nhưng mãi tới ngày 27.5.308 mới bầu được Đức Giáo Sodoma_003bhoàng Marcellô I kế vị, nhưng ngài lại tử đạo ngay năm sau. Có nhiều vị tử đạo trong quân đội như Sebastianô (+296), Georgiô (+303) và có nhiều thánh nữ tử đạo để vẹn toàn tiết hạnh như Agnes (+303) một thiếu nữ 13 tuổi, Lucia (+304).

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Đọc thêm từ Mục vụ Giới trẻ

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận