Cuộc Thương Khó qua trình thuật Tin mừng – kỳ 1

Linh muc Giuse Nguyễn Thế Thuấn – Giáo sư Kinh thánh

CƠN HẤP HỐI TẠI YÊRUSALEM

TRÌNH THUẬT CỦA MARCÔ.

Marco cho ta thấy cái sườn của câu truyện :

Họ đến một cái trại có tên là Ghetsemani (14:32).

Họ đến, nghĩa là cả nhóm Đức Yêsu và các môn đệ, Marco không phân biệt Đức Yêsu với các Tông đồ. Như người ta đã nhận xét, có lẽ đoạn này vọng lại lời rao giảng của Phêrô. Như thể chúng ta đang nghe ông nói : Chúng tôi đến chỗ đó, rồi Đức Yêsu làm thế này”. Một người có tham dự vào biến cố, khi thuật lại sẽ làm như thế. Người ta thường nghĩ rằng Marco ghi lại giáo huấn và cách nói sống động của Phêrô, vậy có thể đây là một dấu vết của việc đó.

Cái trại nơi họ đến tên là Ghetsemani. Nhiều người đã đề nghị những tự nguyên khác nhau cho chữ này. Tự nguyên xem ra có lý nhất là chữ aram gat chemaini có nghĩa là nơi ép (gat) dầu (chemani). Vậy đây là một cơ sở có nơi ép dầu, vì ở đó có nhiều ôliu. Nhờ một truyền thống cổ, ngày nay chúng ta còn biết rõ nơi này, và ngay nơi đây còn một nhà thờ mới, được xây trên nền của một nhà thờ khác cổ hơn.

Và Ngài bảo môn đồ : “Các ngươi ngồi lại đây đang khi Ta cầu nguyện”. Vậy Đức Yêsu tách ra để cầu nguyện. Nhiều lần trong đời sống của Ngài, ta đã thấy Ngài tách mình ra để cầu nguyện, nhưng lần này có một tầm quan trọng đặc biệt, vì cái giá của nó là sự sống hay cái chết.

Đoạn Ngài đem Phêrô, Yoan và Yacôbê theo mình (Mc 14:33).

Đó là 3 vị tông đồ được cưng và đã được chọn làm nhân chứng cho phép lạ hoàn sinh của đứa con gái ông Yairô, cũng như cho cuộc Hiển Dung (biến hình). Thường Tin Mừng hay thuật việc Chúa Yêsu cầu nguyện một mình trên núi. Lần này, Ngài đem theo ba nhân chứng, do tầm quan trọng đặc biệt của lời chứng này. Các tông đồ, hay ít ra ba người trong số họ, phải chứng kiến cuộc tranh đấu tối hậu của Thầy mình và phải tham gia hết mức, để cùng Ngài chấp nhận thập giá đang xuất hiện.

Và bắt đầu kinh hoảng – âu sầu. Hai chữ Hylạp dùng ở đây có nghĩa rất mạnh. Chữ thứ nhất, hay được Marco sử dụng, có nghĩa là “sững sờ”, “chết đứng”, ở đây là chết điếng vì sợ, như thể Đức Yêsu bỗng thấy mình đối diện với cái chết; hẳn Ngài chờ đợi nó từ lâu rồi, nhưng cũng như tất cả chúng ta, chưa thấy nó gần kề lắm. Nay bỗng nhiên nó trở nên gần sát; cảm giác này đưa đến một sự sợ hãi điếng người của bản tính nhân loại. Còn chữ âu sầu cũng dịch từ một tiếng Hylạp rất gợi hình: nó nói về một con người bối rối, mất định hướng, cảm thấy khốn quẫn trước một nguy cơ gần kề. Chúng ta thấy Đức Yêsu trong bản tính nhân loại của Ngài cũng cảm thấy điều mà mọi người đều cảm thấy, i.e (id est – đó là) sự sợ hãi trước cái chết, nhưng với một sự bén nhạy đặc biệt, trước một cái chết đặc biệt. Đức Yêsu muốn trải qua thân phận đó để chịu cơn thử thách cuối cùng.

Và Ngài bảo họ : “Hồn Ta buồn phiền quá đỗi; muốn chết được. Các ngươi hãy ở lại và canh thức(Mc 14:34).

Lời này như vọng lại Tv 42:6 : “Hồn tôi hỡi sao phiền muộn? Sao cứ ấm ức trong tôi?” Trong tiếng Hylạp, hai câu này sử dụng cùng một chữ. Còn “muốn chết được” thì gợi đến Yôna 4:9 : “Tôi buồn lắm, muốn chết được” (x.Hc 51:6). Các lời Kinh Thánh này có thể diễn tả nỗi buồn tự nguyện mà Chúa Yêsu cảm thấy.

Hãy ở lại đây và canh thức”. Sau khi bỏ nhóm Tông đồ ở đàng xa, Đức Yêsu lại để ba người thân cận lại nữa, rồi tách riêng ra để cầu nguyện một mình. Ngài xin họ canh thức, đây cũng là một chủ đề quan trọng ta sẽ xem sau.

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC YÊSU.

Tiến xa thêm ít bước, Ngài sấp mình xuống đất và cầu nguyện(Mc 14:35).

Trong bản tiếng Hylạp, Marco sử dụng một thì quá khứ nói lên sự kéo dài : Ngài cầu nguyện… cầu nguyện mãi. Việc sấp mình xuống đất cũng đáng chú ý vì họa hiếm. Không thấy chỗ nào khác trong Tin Mừng nói Đức Yêsu sấp mình xuống đất, và hành động này cho thấy một trạng thái suy sụp của bản tính loài người.

Ngài cầu nguyện nếu có thể được thì xin cho thời giờ đó qua đi khỏi Ngài. Giờ (viết hoa) mà ta thường gặp trong Tin Mừng Yoan; là lúc Thiên Chúa chọn để cho xảy đến cuộc thương khó. Đức Yêsu xin cho Giờ đó qua đi, i.e cho nó đừng đến với Ngài, để Ngài khỏi phải sống Giờ đó. Đức Yêsu trong bản tính nhân loại đã xin Thiên Chúa tránh cho Ngài nỗi đau đớn này. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự kiện, đây là sự thật – rồi Đức Yêsu sẽ chiến thắng ngay tức khắc tiếng kêu của bản tính nhân loại, nhưng bản tính ấy vẫn có nơi Ngài. Ta đừng làm như Đức Yêsu “giả bộ” trong mọi việc từ khi sinh ra đến lúc chết đi : Giả bộ trốn, giả bộ hỏi v.v… Không ! Đức Yêsu đã sống như chúng ta, với tất cả những thành phần của một bản tính nhân loại; tuy vẫn là Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng là người thật, và với tính cách là người, Ngài cũng muốn tránh cái chết, và Ngài xin với Chúa Cha điều đó, nếu có thể được.

C.36 lặp lại cùng một lời cầu xin đó, dưới dạng trực tiếp : Abba, lạy Cha, Cha có thể làm mọi sự, xin cất chén này đi khỏi con. Lần này Đức Yêsu không nói đến Giờ nhưng là chén. Đây là một từ ngữ Kinh Thánh để chỉ một cơn thử thách, một số mạng đau thương (x. Ys, Yr, các Tv, Kh). Chén đây là chén cay đắng đau khổ phải uống.

Cũng nên chú ý đến chữ “Abba” (Cha), vì nó rất lạ lùng. Dường như đây là một lối xưng hô rất thân mật mà người Dothái không dùng với Thiên Chúa.Theo Jeremias, Abba nghĩa là “Bố”. Đó là tiếng kêu thân mật của một trẻ em Dothái với cha nó. Người Dothái không dám dùng cho Thiên Chúa vì sợ bất kính, nhưng Đức Yêsu đã dùng. Điều này thoáng cho ta thấy sự thân mật giữa Đức Yêsu với Cha Ngài. Và điều đó làm cho các Kitô hữu đầu tiên ngạc nhiên đến nỗi họ đã giữ lại chữ này; trong các bản văn tiếng Hy lạp, họ vẫn ghi lại chữ aram “Abba” do chính miệng Đức Yêsu thốt ra, rồi tiếp đó họ mới dịch nghĩa “lạy Cha” để cho những độc giả Hylạp hay La tinh hiểu được.

Trong tâm tình mến thương và khiêm tốn, Đức Yêsu đã thẳng thắn xin với Cha : Nhưng không phải con muốn gì, mà là Cha muốn gì. Bản tính nhân loại được đặt về đúng chỗ của nó, còn thánh ý Thiên Chúa phải làm chủ; mà thánh ý ấy là Đức Yêsu phải chấp nhận uống chén đắng; chấp nhận bước vào trong Giờ của Ngài.

Lời cầu nguyện của Đức Yêsu ở đây được thu gọn trong 1 câu, nhưng thực tế có lẽ nó đã kéo dài ½ giờ hay 1 giờ cũng nên.

Sau khi Ngài cầu nguyện xong, Ngài trở lại mà thấy họ đang ngủ, Ngài mới nói với Phêrô : “Simon, ngươi ngủ sao, ngươi không có sức để thức được 1 giờ ư?(Mc 14:37).

Ngay cả ba Tông đồ thân cận, có lẽ vì mỏi mệt, nhưng cũng vì thiếu can đảm và cũng không hiểu rõ sự gì sắp xảy ra, cũng đã thiếp ngủ.

Đức Yêsu cảm thấy cô đơn, Ngài còn nói thêm một câu có tính cách chung chung, áp dụng được trong nhiều trường hợp : Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn thử thách, tinh thần tuy sẵn sàng, nhưng xác thịt thì yếu nhược(Mc 14:38).

Tâm hồn nhiệt thành, đầy thiện chí và sẵn sàng, nhưng bị cản trở bởi xác thịt yếu đuối. Mỗi người chúng ta đều nếm biết cuộc chiến đấu này. Trong hoàn cảnh đó, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa cơn thử thách. Chúng ta đừng hiểu chữ này theo một nghĩa tầm thường, cơn thử thách mà Đức Yêsu nói đến là một từ ngữ kỹ thuật của Thiên Chúa : Đó là cơn đau chuyển bụng mà Thánh Kinh thường nói đến, một cơn khủng hoảng cần thiết, qua đó người ta được đau khổ thanh luyện, hầu được biết thời buổi cứu độ. Đức Yêsu là người đầu tiên sắp trải qua cơn thử thách ấy, và sau Ngài, tất cả mọi Kitô hữu cũng sẽ phải trải qua. Để đừng sa cơn thử thách, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện (đây cũng là chước cám dỗ nói đến trong kinh lạy Cha).

Ngài lại ra đi và cầu nguyện lại những lời lẽ như thế (Mc 14:39).

Marco chỉ nói thoáng qua về lần cầu nguyện thứ 2 này :

Rồi Ngài lại đến và thấy họ vẫn đang ngủ, đôi mắt họ li bì nặng giấc, và họ không biết thưa gì với Ngài (Mc 14:40).

Một lần nữa, Đức Yêsu bắt gặp các Tông đồ đang mê ngủ.

Lần thứ 3, Ngài lại ra đi. Marco không nói gì về lần cầu nguyện thứ 3, nhưng chỉ nói gọn như thế.

Lần thứ 3, Ngài đến và bảo họ : “Thôi ! cứ ngủ, cứ nghỉ! Thế là xong. Giờ đã đến! Này Con Người sắp bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi(Mc 14:41).

Câu này rất khó hiểu. Trước tiên là câu : Thôi, cứ ngủ, cứ nghỉ. Phải chọn giữa 2 nghĩa, vì bản văn Hylạp có thể hiểu như một câu hỏi : “Các ngươi ngủ ư”; hay như một mệnh lệnh : “thôi, ngủ đi”. Cha Lagrange còn đề nghị một cách dịch khác mà tôi cũng đồng ý, nó có vẻ hơi mỉa mai  “Thôi được, các ngươi cứ ngủ đi, còn Ta, Ta sẽ canh thức”. Sau 2 lần đánh thức các Tông đồ mà các ông vẫn không dậy nổi, Đức Yêsu đã mỉa mai các ông một cách thân mật. Nhưng Ngài lại tiếp ngay :

Thế là xong. Động từ tiếng Hylạp ở đây rất khó dịch. Chúng ta có thể đưa ra 3 giải đáp chính : Thông thường, động từ đó có nghĩa là “lãnh nhận”, thí dụ : lãnh một số tiền như trên các văn tự Ai cập cổ mà ta còn giữ được. Vậy, có thể hiểu là : lúc này đây, Yuđa đang lãnh tiền. Động từ này còn một nghĩa khác nữa : “Ở xa”. Có thể dịch : Yuđa còn ở xa, các ngươi còn thì giờ để ngủ. Và sau cùng là giải pháp thứ 3, mà tôi cũng như nhiều nhà chú giải khác đồng ý chọn: động từ này có thể không theo một chủ từ xác định nào, và có nghĩa là : “Đã rồi” hay “thế là xong”.Giờ đã đến, này Con Người sắp bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. Đức Yêsu tự xưng là Con Người, một danh hiệu mà Ngài ưa thích sử dụng trong những thời điểm quan trọng của đời Ngài, để nói lên sứ mạng và định mệnh của mình. Ngài phải bị nộp. Dậy! Ta đi! Này kẻ nộp Ta đã gần (Mc 14:42). Bây giờ không còn phải lúc ngủ, hay thức, hay cầu nguyện nữa, mà phải ra tay hành động. Ngay khi ấy, Yuđa đến, chúng ta sẽ nói tới trong chương sau.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Đọc thêm từ Mục vụ Giới trẻ